Thursday, May 4, 2023

Chủ Nghĩa Nhân Văn Kitô Giáo Trong Việc Giải Quyết Vấn Đề Khủng Hoảng Về Môi Trường (Phần 1)



1.  Nhập Đề

Một trong những vấn đề quan trọng nhất được Giáo hội Công giáo quan tâm là tình trạng suy thoái môi trường và khủng hoảng sinh thái đang gây hại cho môi trường. Ngày nay, việc thúc đẩy nhận thức về môi trường, khuyến khích sự phát triển bền vững của hệ sinh thái và đảm bảo sự bảo tồn các loài trở thành nhiệm vụ của toàn xã hội, không chỉ là của một số nhóm xã hội hay cá nhân. Điều này cũng đúng với tất cả các thành viên của Giáo hội Công giáo. Trải qua nhiều thập kỷ, các nhà lãnh đạo và thần học trong Giáo hội đã nỗ lực để đưa ra một học thuyết rõ ràng về bảo vệ môi trường, dựa trên sự hiểu biết về Kinh thánh và các giáo huấn của Hội Thánh.

Hơn 50 năm trước đây, nhà sử học Lynn White Jr. đã viết một bài tiểu luận về truyền thống Do Thái-Ki-tô giáo. Ông đã nêu lên luận điểm rằng, trong lịch sử loài người, đây là một tôn giáo với lối tư duy lấy con người làm trọng tâm (anthropocentric) nhất bởi vì trong Kinh Thánh, Thiên Chúa cho phép con người cai trị và làm bá chủ thiên nhiên (St 1,28), khiến cho con người trở nên độc tài, trần tục hoá thiên nhiên và lạm dụng tài nguyên môi trường một cách vô tội vạ. Vì thế, White cho rằng truyền thống Do Thái – Ki-tô giáo chính là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng sinh thái ngày nay (White, 1967).
 
Lời cáo buộc này cho dù có hợp lý hay không, thì nó cũng đã giáng một đòn mạnh vào Ki-tô giáo. Bởi lẽ, lập trường của White đã được nhiều người chấp nhận, trong đó có cả giới học thuật, các chuyên gia nghiên cứu về đạo đức môi trường, cũng như các nhà hoạt động về xã hội và môi trường. Mặc dù đã nhiều năm trôi qua kể từ khi bài viết được phát hành, tuy nhiên, lời cáo buộc của White vẫn thường xuyên được đề cập như một quan điểm yêu cầu người Ki-tô hữu phải cung cấp lời giải thích và thanh minh.

Hiện nay, vẫn còn nhiều nhận thức sai lầm hoặc thiếu hiểu biết về các giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo liên quan đến vấn đề sinh thái. Một phần là do những hành động của một số tín đồ Công Giáo đi ngược lại với giáo huấn của Giáo Hội. Tuy nhiên, thực tế là Giáo huấn của Hội Thánh về môi trường rất phong phú và có thể tìm hiểu qua nhiều lăng kính khác nhau, từ Thần học, Kinh Thánh, Luân Lý, v.v..

Trong bài viết này, tác giả muốn trình bày về tư tưởng của Giáo hội về vấn đề sinh thái thông qua góc nhìn của chủ nghĩa nhân văn Kitô Giáo. Đây là một cách nhìn về môi trường có nền tảng trong nhiều tài liệu khác nhau của Giáo Hội, và đã được các vị Giáo hoàng liên tục đề cập từ thời Công đồng Vatican II cho đến nay.

Trong bài viết này, chúng ta sẽ làm sáng tỏ chủ nghĩa môi trường Công Giáo dưới lăng kính nhân văn Kitô giáo. Chủ nghĩa này bắt nguồn từ một chủ nghĩa nhân văn, nó nhấn mạnh đến lời mời gọi cao quí dành cho mỗi cá nhân, đó là cố gắng hướng tới một đời sống nhân đức và trở thành những tác nhân không chỉ sống trong xã hội mà còn hành động để hướng tới cuộc sống hài hòa với Thiên Chúa, nhân loại, và toàn thể vũ trụ. Chủ nghĩa môi trường Công Giáo đề cao giá trị của sự kính trọng và bảo vệ môi trường, như một phần cốt lõi của sự kính trọng và bảo vệ sự sống con người, đồng thời, đề cao sự công bằng và sự tôn trọng đối với tất cả các sinh vật và môi trường sống của chúng ta.

Wednesday, March 15, 2023

[Chapter] Religious Communication in Asia

Anthony Le Duc and Keval J. Kumar. "Religious Communication in Asia." In The Handbook on Religion and Communication, edited by Yoel Cohen and Paul Soukup, 99-116. Oxford: Wiley Blackwell, 2023. 

This chapter examines religion and communication in Asia. As a large, heavily populated region, Asia has many religions; thus, the chapter addresses Buddhism, Confucianism, Hinduism, Jainism, the Bhakti tradition, and Sikhism – religions that appear throughout the areas. (The chapter does not address Christianity and Islam since other chapters do so.) Asian religions were never uniform and monolithic; they were, and continue to be, characterized by numerous sects and cults, and centered on orthopraxy rather than orthodoxy. They are largely “open” faith systems, nondoctrinal and often nonsectarian too, and their historical evolution through the early, medieval, and modern periods focused on the use of the varieties of forms of oral and traditional media, and later of modern mass media and the new digital media. In each case, the chapter introduces the religion and its general approach to communication, any ethical teachings that touch on communication, and its use of communication and digital communication technologies.

https://www.wiley.com/en-us/The+Handbook+of+Religion+and+Communication-p-9781119671589

Sunday, February 12, 2023

The Church's Mission of Dialogue in the Digital Age

Asia Pacific Mission Studies 4, no. 2 (2022): 31-56.

Abstract

The development of Internet Communication Technology (ICT) has led the world into a new context with social, philosophical, and theological implications. It also presents missionary challenges that demand due response from Church leaders and members. This paper explores the nature of the present context and the ramifications that this milieu holds for the Catholic Church and the Church's relationship with other religions. Close examination indicates that the digital age characterized by exponential increase in knowledge production, heightened sense of enclavism, and difficult to control disinformation about religions and religious matters places society at great risks for interreligious misunderstanding and conflict. It proposes that the way for the Church to respond to the present milieu is by taking a proactive approach in the mission of dialogue, engaging both the listening, and proclaiming dimensions. This mission of dialogue should no longer be viewed as simply a way of being Church but rather the way of being Church in the modern context. Without a proactive approach to mission of dialogue, the Church risks having its voice being drowned out by the great plethora of voices both inside and outside of the Church, many of which aim to disrupt unity within the Church as well as the Church’s missionary endeavors.

Kewords:
Interreligious dialogue, Digital age, Church mission

Download full paper:


Thursday, January 19, 2023

Buddhist Environmental Humanism: A Humanistic Spirituality to Promote Ecological Flourishing


 Religion and Social Communication 20, no. 2 (2022)

Abstract


Religious environmentalisms are often inaccurately described as ‘anthropocentric,’ a label that can lead to a devaluation of the potential contribution that religiously inspired environmentalisms can have towards addressing the ecological crisis. This paper argues for reframing religious environmentalism, particularly Buddhist environmentalism, as an environmental humanism. The paper argues that seeing Buddhist environmentalism from the lens of humanism will help to eliminate the negative connotations attached to anthropocentrism, especially strong anthropocentrism, which is detrimental to environmental wellbeing and flourishing. On the other hand, environmental humanism argues that when human beings undergo the self-cultivation process to transform their lives, they are in fact achieving the best version of themselves—becoming truly and authentically human—a reality that in fact contributes to promoting both human and environmental wellbeing and flourishing. Thus, acting on behalf of the environment is part and parcel of the self-cultivation process encouraged by Buddhism. In the paper, the author presents fundamental Buddhist teachings that are essential to integral human development and are relevant to environmental humanism. The paper also discusses the various Buddhist virtues that define authentic personhood as well as promote environmental protection. Finally, the paper argues that Buddhist environmental humanism is not simply an environmental ethic but an environmental spirituality.


Keywords: Buddhist environmentalism, environmental humanism, ecological crisis, environmental wellbeing, environmental spirituality

Need for an Environmental Spirituality Going Forward





As the world was trying to pull itself out of the coronavirus pandemic and while Russia and Ukraine were engaging in a war that holds enormous ramifications for global peace, on 14-15 September 2022, dozens of religious leaders gathered in Kazakhstan for the Seventh Congress of the Leaders of World and Traditional Religions. The theme of the gathering appropriately focused on “the role of leaders of world and traditional religions in the spiritual and social development of mankind in the post-pandemic period.” In his welcome speech, President Kassym-Jomart Tokayev set the agenda for discussions and reflections by remarking that “as we face an increasingly turbulent geopolitical post-pandemic world, it becomes more crucial to develop new approaches to strengthening inter-civilizational dialogue and trust at the global level.”[1]

The declaration released at the conclusion of the two-day event affirms the essential role of religions in helping to address contemporary global dilemmas. One of the major concerns which the leaders paid attention to was caring for our common home, which in his speech in the first plenary session, Pope Francis mentioned as one of four important tasks that needed to be carried out post-pandemic. The others were becoming artisans of communion, addressing the challenge of peace, and promoting fraternal acceptance. This multi-pronged agenda is reflected in the final declaration which states, “We appeal to all people of faith and goodwill to unite in this difficult time and contribute to ensuring security and harmony in our common home – planet Earth.”[2] Indeed, human-ecoflourishing comprises multiple intertwining facets – social, political, economic, environmental, and spiritual – all serving to impact each other either negatively or positively. Thus, the participants declared “that in the conditions of post-pandemic world development and the globalization of processes and security threats, the Congress of the Leaders of World and Traditional Religions plays an important role in the implementation of joint efforts to strengthen dialogue in the name of peace and cooperation, as well as the promotion of spiritual and moral values.”

The Asian Research Center for Religion and Social Communication shares the sentiments stated above and has allocated most of the pages of this issue of Religion and Social Communication to the theme of “Religion and Environmental Flourishing: Reflections from the Pandemic Experience.” The contributions in the form of research articles and essays come from a variety of religious perspectives – Buddhist, Catholic, Muslim, Jain, Protestant, Eastern Orthodox. Despite coming from different religious worldviews, the underlying message fundamentally affirms that promoting ecological flourishing requires an approach that centers on both praxis and spirituality in order to prevent the task of caring for our common home from becoming simply a series of dry mechanical calculations, purely theoretical propositions, or clever policy enactments. Religions at their best inspire and infuse external acts that are consistent with authentic interior virtues ordered to the wellbeing of both humanity and the natural environment. In this respect, religions must undergo its own self-examination in order to adequately speak to the present context. As the Buddhist scholar monk Bhikkhu Bodhi (1994) asserts:

If any great religion is to acquire a new relevance it must negotiate some very delicate, very difficult balances. It must strike a happy balance between remaining faithful to the seminal insights of its Founder and ancient masters and acquiring the skill and flexibility to formulate these insights in ways that directly link up with the pressing existential demands of old-age. It is only too easy to veer towards one of these extremes at the expense of the other: either to adhere tenaciously to ancient formulas at the expense of present relevance, or to bend fundamental principles so freely that one drains them of their deep spiritual vitality. Above all, I think any religion today must bear in mind an important lesson impressed on us so painfully by past history: the task of religion is to liberate, not to enslave. Its purpose should be to enable its adherents to move towards the realization of the Ultimate Good and to bring the power of this realization to bear upon life in the world.

This sentiment adequately encapsulates the task that religious traditions must undertake to contribute to addressing contemporary issues plaguing society, especially that of the environmental crisis. Although there have been countless books, academic articles, and conferences on the topic of religion and the environment, there is still a need for ongoing voices for multiple reasons. First, as long as the environmental crisis continues to threaten human and ecological flourishing, there can never be silence even if what is now said has already been said before. The environmental crisis did not develop overnight, and it would not be resolved in a short time. Persistence on the part of those who recognize the problem and tirelessly address it is essential to its mitigation and, hopefully, eventual remedy. In addition, old voices can be renewed, reinvigorated, and re-presented in new social contexts where both the speaker and the listener approach the issue with different understanding and sensibilities. Thus, even if the content of the message is not new, how and in what circumstances it is presented may help it to gain new import. As religion and the environment can impact each other, at the same time be impacted by technological and social developments, ongoing engagement in the discourse in an interdisciplinary and interreligious manner promises to be beneficial to the ultimate goal of achieving flourishing and wellbeing for both nature and humanity. Therefore, ongoing work in environmental spirituality must explore the following questions:
· How can an adherent of a religion develop a spirituality that is conducive to promoting environmental wellbeing?

· What elements of one’s religious tradition are able to inform such an environmental spirituality?

· How can particular religious traditions motivate and sustain an environmental spirituality that does not derail from its tradition, yet at the same time, is able to respond to the present situation?

· How does a religious environmental spirituality manifest itself in ethical actions and activities relating to the environment?

· How can religious systems make a unique contribution to the overall global discourse on environmentalism itself?

· How can a religious environmental spirituality enrich and inform purely secular environmental ethics?
Scientific surveys and empirical experience confirm that religion continues to play a prominent role in the life of people around the world, which makes it wise to encourage an environmental spirituality founded upon scientific facts and positively informed and motivated by their faith. In this context, the term ‘spirituality’ is applied to all religious systems, including nontheistic traditions like Buddhism and Confucianism. One might find the term ‘spirituality’ applied to a religion like Buddhism to be an oxymoron because Buddhism denies the existence of a ‘spirit’ or a ‘self.’ However, ‘spirituality’ in its modern academic usage does not necessarily connote the presence of a ‘spirit’ or a ‘soul’ as understood in Western Christianity but can also refer to a more general state or experience of inner wellbeing and transformation. Because of this, spirituality as a discipline can be applied to a variety of religious systems as well as non-religious contexts. The Dalai Lama (1999) says that spirituality goes beyond religion, which is “concerned with faith in the claims to salvation of one faith tradition or another, an aspect of which is acceptance of some form of metaphysical or supernatural reality, including perhaps an idea of heaven or nirvana.” On the other hand, spirituality is “concerned with those qualities of the human spirit – such as love and compassion, patience, tolerance, forgiveness, contentment, a sense of responsibility, a sense of harmony – which brings happiness to both self and others.” Therefore, the Dalai Lama asserts that what is needed is not a ‘religious revolution,’ but a ‘spiritual revolution’ where there is a “radical reorientation away from our habitual preoccupation with self” and a turning “toward the wider community of beings with whom we are connected, and for conduct which recognizes other’s interests alongside our own.” Having said that, the Dalai Lama does not deny that spiritual “qualities, or virtues, are fruits of genuine religious endeavour and that religion therefore has everything to do with developing them and with what may be called spiritual practice.”

What religions continually emphasize is that the dilemmas plaguing humanity today are not just social issues. As His Eminence Dr. Ahmed Al-Tayeb, the Grand Imam of Al-Azhar and Chairman of the Muslim Council of Elders remarked in his speech at the Congress in Kazakhstan, the issues of concern to global religious leaders “is the topic of the hour at the spiritual and social levels.” Therefore, when it comes to such complex dilemmas as the environmental crisis, changes must start from within the human spirit. Otherwise, remedies are only superficial, temporary, and inadequate. The COVID-19 pandemic experience has revealed this lack of and need for deeper spiritual transformation from humanity. During the first year of the pandemic, in which the virus was wreaking havoc on nations and peoples, causing lockdowns on a massive scale, there was hope that the pandemic would somehow serve as a reset for the environment. Skies were clearer, more wild animals appeared in public places, and certain natural places, bereft of human footprints revitalized. But all this was not much more than a temporary respite because environmentally positive actions were carried out due to force, not from an awakening of conscience. In fact, there were many signs that humans were just as willing to disregard the wellbeing of nature to protect their own health (at least in the short term). All plans for reusable cups at cafes and restaurants were put on hold. Discarded masks and COVID-19 test kits became one of the most common forms of garbage. As people did not leave the house, most opted for ordering things online that were delivered in layers of wrappings that would be discarded as trash. When restaurants were opened, utensils came individually wrapped in plastic bags to ensure proper sanitation. And once travel restrictions were removed, demand for airline tickets surged to pre-pandemic levels. Since 2021, the term ‘revenge travel’ has become a buzzword to describe the pent-up demand for travel to make up for lost trips during pandemic restrictions. Thus, even when petrol prices doubled and airline ticket prices sky-rocketed due to higher demands, people still organized big trips by air and by land with little hesitance.

All the signs indicate that as people put the pandemic behind them (at least mentally), things will return to the way it always was with not much change in their way of traveling, of consuming, and of carrying out their daily activities. The dangers that climate scientists warned pre-pandemic remain no less serious after nearly three years of the health crisis. Thus, the need for interreligious and interdisciplinary collaboration in order to address the environmental crisis is still an urgency that cannot be ignored as we dig ourselves out of one of the most terrible calamities in modern history.


References

Bhikkhu Bodhi. “A Buddhist Response to Contemporary Dilemmas of Human Existence.” Access to Insight (1994). https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/bodhi/response.html

Dalai Lama. Ethics for the New Millenium. New York: Putnam, 1999.


[1] Remarks by President Kassym-Jomart Tokayev. Retrieved from https://religions-congress.org/en/news/novosti/1679

[2] Declaration of the VII Congress of the Leaders of World and Traditional Religions. Retrieved from https://religions-congress.org/en/page/deklaraciya-uchastnikov-VII


Sunday, September 4, 2022

Bối cảnh xã hội và mục vụ (Ph. 2/ Ch. 1)

Trích từ tập sách "Sứ vụ của Giáo hội trong kỷ nguyên kỹ thuật số". (Tác giả: Lm. Anthony Lê Đức, SVD). NXB. Asian Research Center for Religion and Social Communication, 2022.



Các thách đố mục vụ


1. Khía cạnh xã hội



Tác động của CNTT-TT đối với đời sống xã hội của con người nhìn chung được đánh giá là tích cực. Trong quá trình phát triển CNTT-TT, đã xuất hiện nhiều nền tảng truyền thông (email, tin nhắn, hội nghị trực tuyến, v.v.) cũng như các trang mạng xã hội cho phép kết nối xuyên thời gian và không gian. Các ứng dụng như WhatsApp, Facetime và Viber cho phép chúng ta giao tiếp và kết nối với nhau trên toàn cầu cách nhanh chóng và hiệu quả với chi phí rẻ. Mặc dù không hoàn hảo, nhưng các công cụ chuyển ngữ giúp cho chúng ta có thể giao tiếp và cộng tác với những người thuộc các nền văn hóa và ngôn ngữ khác một cách dễ dàng hơn. Các nền tảng có tính năng gọi điện video mang lại lợi ích cho nhiều người, đặc biệt là những người cao tuổi mà phần lớn thời gian ở trong nhà và không dễ dàng đến thăm người thân ở các thành phố hoặc quốc gia khác.

Phương tiện mạng xã hội cũng giúp chúng ta kết nối lại với những người bạn đã mất liên lạc từ lâu, giúp tìm kiếm các đối tác kinh doanh tiềm năng, và tìm kiếm các cộng sự mới cho những dự án của mình. Internet cũng đã trở thành một nền tảng phổ biến để thực hiện các dự án nhân đạo và các hoạt động từ thiện do cộng đồng tài trợ. Ở quy mô lớn hơn, internet có thể giúp thúc đẩy nhận thức về một gia đình nhân loại và tình huynh đệ của con người. Các cộng đồng được thiết lập trực tuyến cũng tạo cơ hội cho những cuộc gặp gỡ với những cá nhân có nền tảng văn hóa và địa vị xã hội khác với mình, các mối tương quan mới có thể chỉ được duy trì trên không gian mạng, hoặc được vun đắp bằng những buổi gặp gỡ ngoại tuyến, diện đối diện.

Tuy CNTT-TT mang lại rất nhiều lợi ích cho chúng ta, nhưng cũng có không ít những biểu hiện tiêu cực đáng quan ngại. Việc lạm dụng CNTT-TT và dành quá nhiều thời giờ để tiêu khiển trên mạng xã hội có thể gây nên những tác động nguy hại đến các mối tương quan hằng ngày trong đời sống của chúng ta. Mặc dù CNTT-TT mang lại sự dễ dàng trong việc làm quen với người khác và tham gia vào cuộc trò chuyện thông qua các phương tiện kỹ thuật số, nhưng công nghệ không đảm bảo một tình bạn lâu dài và có ý nghĩa. Chúng ta thấy rằng việc tương tác trực tuyến rất phổ biến, nhưng nhiều người, đặc biệt là giới trẻ thuộc thế hệ Y (hoặc Igen) cho biết: họ không có một người bạn thực sự thân thiết nào và thường xuyên rơi vào trạng thái cảm thấy cô đơn.[1] Một phần nguyên nhân là giao tiếp trực tuyến có xu hướng không phản ánh suy nghĩ và cảm xúc thực sự của cá nhân, nhất là khi người ta thường xuyên diễn đạt ý tưởng với các biểu tượng cảm xúc (emoji) tuy thú vị nhưng cũng mơ hồ ý nghĩa, như biểu tượng mặt cười, mặt buồn, mặt khóc... Hơn nữa, vì tương tác trực tuyến mang lại cho nhiều người cảm giác như đang ẩn danh, họ tỏ ra ít kiềm chế hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh khi giao tiếp với người khác, dẫn đến việc họ dễ dàng xúc phạm và gây tổn thương cho nhau trên không gian trực tuyến. Ngay cả trên diễn đàn báo chí thời sự mà người ta thường cho là thuộc về tầng lớp có học, có nhiều lời bình luận từ độc giả mang tính đả kích, chia rẽ, thiếu văn hóa.

Việc ít giao tiếp trực tiếp có thể dẫn đến sự “ngắt kết nối xã hội” (social disconnect), khiến cho các mối tương quan nhân vị trong đời sống trở nên hời hợt, thiếu sự liên đới và mật thiết. Trong một số trường hợp cực đoan, có người chuyển sang xây dựng mối tương quan với những đối tượng kỹ thuật số như chó, mèo, người điện tử thay vì vun đắp mối tương quan với người thật, và trải nghiệm các tình huống và cảm xúc trong đời thực.

Năm 2019, một người đàn ông tại Nhật Bản tên Akihiko Kondo đã “kết hôn” với một “hologram” của một thần tượng ảo (virtual idol) có tên Hatsume Miko, và coi đó là vợ của mình.[2] Trong nghi lễ kết hôn còn có sự tham dự của 39 khách mời là bà con và bạn bè. Tuy nhiên, bố mẹ của nhà trai đã không đến tham dự. Chắc hẳn hai ông bà từng mơ ước con mình sẽ cưới một cô gái xinh đẹp và sinh ra cho họ những đứa cháu dễ thương làm vui nhà vui cửa, chứ không phải cưới một nhân vật điện tử. Chúng ta không cần phải đặt vấn đề “bố mẹ nhà gái” là ai; chắc hẳn, “bố mẹ” là những anh chàng kỹ sư phần mềm với trí tưởng tượng phong phú và khả năng lập trình thuộc hạng giỏi. Một điều đáng quan ngại khác nữa về hiện tượng này là ngoài Akihiko Kondo ra, còn có thêm 3.700 người Nhật khác nữa cũng đã đăng ký với công ty phát triển công nghệ Gatebox vào năm 2017 để “kết hôn” với những nhân vật ảo mà họ hâm mộ.

Đối với những người vẫn còn trò chuyện với người thật, nghiên cứu cho thấy rằng việc dùng mạng xã hội trực tuyến để liên lạc với gia đình và bạn bè không phải là một giải pháp hiệu quả nhằm làm giảm cảm giác cô đơn.[3] Trong các gia đình ở thành thị, các thành viên ngày càng cô lập mình trong phòng riêng nhiều hơn. Ở đó, họ chủ yếu tiêu khiển thời giờ với các thiết bị điện tử. Mặc dù có sự giao tiếp với người khác diễn ra liên tục thông qua việc nhắn tin, đăng bài và trò chuyện, nhưng tất cả những phương thức này đều thiếu yếu tố giao tiếp giữa người với người cách trực tiếp. Thói quen sử dụng các thiết bị vi tính trong việc giao tiếp với gia đình, đồng nghiệp, người yêu…khiến nhiều người cảm thấy thoải mái hơn khi liên hệ qua trung gian CNTT-TT thay vì trực tiếp đến với nhau. Trớ trêu thay, mặc dù chúng ta nhốt mình trong phòng riêng nhiều hơn, nhưng dường như chúng ta ít được nghỉ ngơi hơn trước đây. Điện thoại thông minh đã có tác động tiêu cực đáng kể đến thời gian nghỉ ngơi, gây ra sự suy giảm chất lượng cũng như thời lượng giấc ngủ trên toàn cầu.[4]

Phải thừa nhận CNTT-TT mang lại cho chúng ta nhiều cơ hội để kết nối với người khác, đặc biệt khi chúng ta biết sử dụng công nghệ cách phù hợp và thận trọng. Tuy nhiên, nó cũng gây nên vô số các tác động tiêu cực do sự lạm dụng bởi những cá nhân và tổ chức với mục đích xấu. Lạm dụng internet bao gồm các hành vi như: đánh cắp thông tin và tấn công bằng vi-rút, các nhóm cực đoan sử dụng internet để tuyên truyền, chiêu mộ thành viên mới và lên kế hoạch tấn công khủng bố. Việc sử dụng các thuật toán tích hợp (algorithms) và các công cụ khác khiến cho việc tiếp cận thông tin ngày càng có xu hướng một chiều, dẫn đến tình trạng chia rẽ và phân cực trong xã hội.[5] Ảnh hưởng này càng mạnh hơn khi người ta có xu hướng chia sẻ những nội dung tiêu cực về cá nhân hoặc nhóm khác, góp phần làm gia tăng sự thù hận, thành kiến và bất hòa xã hội.

Trên thực tế, có một phần nhân loại đáng kể chưa thể tiếp cận được với CNTT-TT. Nếu như tỷ lệ sử dụng internet trên toàn cầu hiện nay được cho là ở mức 60%, thì vẫn còn 40% chưa tiếp cận được với công nghệ này. Sự chênh lệch kỹ thuật số (digital divide) được thấy trong các nhóm khác nhau tùy theo giới tính, địa vị kinh tế - xã hội, địa lý cũng như bối cảnh chính trị.[6] Ngay cả ở Hàn Quốc, một trong những quốc gia được kết nối mạng cao nhất thế giới, việc sử dụng mạng internet của nhóm người trên 75 tuổi thấp hơn đáng kể so với các thế hệ trẻ hơn; các thế hệ dưới 75 tuổi này thường chiếm gần mức 100%. Mặc dù internet có tiềm năng to lớn để đạt được lý tưởng về một xã hội bình đẳng, nhưng khả năng tiếp cận công nghệ và điều kiện kinh tế trở thành những trở ngại để đạt được lý tưởng này. Ở các quốc gia có sự phân biệt đối xử về giới tính, phụ nữ ít được tiếp cận với công nghệ hơn. Sự thống trị của nam giới trong việc sử dụng CNTT-TT được thể hiện rõ qua thực tế là ở nhiều quốc gia, nam giới sở hữu điện thoại thông minh nhiều hơn so với nữ giới. Ngoài giới tính thì sự nghèo đói cũng hạn chế khả năng tiếp cận internet và các dịch vụ xã hội khác. Cuối cùng, khoảng cách kỹ thuật số cũng được nhận thấy trong sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị; thường người dân thành phố có lợi thế tiếp cận với CNTT-TT nhiều hơn.


[1] “The terrible problem afflicting millennials,” Aleteia (22/10/2019), https://aleteia.org/2019/10/22/the-terrible-problem-afflicting-millennials/?print=1

[2] “Japanese man marries hologram of virtual idol Hatsume Miko,” South China Morning Post (03/12/2019), https://www.scmp.com/yp/discover/lifestyle/features/article/3069257/japanese-man-marries-hologram-virtual-idol-hatsune.

[3] Mike Z. Yao and Zhong Zhi-jin, "Loneliness, social contacts and Internet addiction: A cross-lagged panel study," Computers in Human Behavior 30 (2014): 164-170.

[4] Katherine Ormerod, Why Social Media is Ruining Your Life (UK: Hachette, 2018).

[5] Vấn đề này sẽ được bàn luận chi tiết hơn trong những chương kế tiếp.

[6] “Digital Divide,” Wikipedia, https://en.wikipedia.org/wiki/Digital_divide



Thursday, September 1, 2022

Bối cảnh xã hội và mục vụ (Ph. 1/ Ch. 1)

Trích từ tập sách "Sứ vụ của Giáo hội trong kỷ nguyên kỹ thuật số". (Tác giả: Lm. Anthony Lê Đức, SVD). NXB. Asian Research Center for Religion and Social Communication, 2022.

Tôi sống trong một cộng đoàn nhỏ tại Bangkok bao gồm năm thành viên – ba linh mục, một thỉnh sinh và một bạn trẻ đang tìm hiểu ơn gọi truyền giáo Dòng Ngôi Lời. Ba anh em linh mục chúng tôi đều là người gốc Việt. Chúng tôi đã tham gia sứ vụ truyền giáo của hội dòng ở Thái Lan vào các giai đoạn khác nhau. Tôi là người phục vụ tại Thái Lan lâu nhất, tính đến nay đã 15 năm, riêng hai thành viên còn lại thì đến Thái Lan khoảng 10 năm.

Một trong ba anh em linh mục chúng tôi là Cha Đaminh Nguyễn Đức Linh. Khi đến xứ Chùa Vàng để phục vụ, Cha Linh đã được hội dòng sai đi làm mục vụ tại một giáo xứ ở tỉnh Udon Thani, thuộc vùng Đông Bắc Thái Lan. Ở đó giáo dân chủ yếu là người Thái có nền văn hóa địa phương mà người ta gọi là “Isan” với giọng nói có nhiều điểm tương đồng với người Lào. Sau một thời gian làm mục vụ giáo xứ, năm 2019 Cha Linh làm đơn xin phép bề trên cho đi học về mục vụ truyền thông vì ngài có sở thích về mảng mục vụ này, đặc biệt trong lĩnh vực gọi là “truyền thông mới” (new media). Hội đồng Bề trên Dòng đã chấp thuận cho Cha Linh đi học tại Philippines. Tuy nhiên, vừa khi ngài bàn giao lại giáo xứ cho Giáo phận Udon Thani thì tình hình dịch Covid-19 bắt đầu bùng phát tại Thái Lan cũng như trên toàn thế giới. Vì cả Thái Lan lẫn Philippines đều đóng cửa toàn quốc và hủy bỏ hoàn toàn các chuyến bay giữa hai nước, Cha Linh buộc phải lưu lại Bangkok một thời gian dài để chờ tình hình đại dịch cải thiện, các nước nối lại các chuyến bay để thực hiện dự tính ban đầu.

Ảnh hưởng của đại dịch trên Giáo hội Thái Lan cũng không khác ở những nơi khác trên thế giới. Các nhà thờ phải đóng cửa ở nhiều thời điểm kéo dài hàng tháng. Mọi sinh hoạt bị hạn chế và nhiều lúc bị tạm ngưng để tuân thủ các biện pháp ứng phó với dịch bệnh của chính quyền địa phương. Vì thế, các sinh hoạt trong cộng đoàn nhỏ bé của anh em Ngôi Lời ở Bangkok cũng phải chịu chung một hoàn cảnh. Tuy nhiên, Cha Linh vẫn tìm nhiều cách để làm mục vụ, tránh tình trạng nhàn rỗi chờ ngày hết dịch. Một ngày nọ giữa mùa dịch, tôi nhận được cuộc điện thoại trên ứng dụng LINE từ Sơ Kanlaya thuộc Dòng Thánh Tâm Nữ tại Bangkok. Sơ nói với tôi rằng, hội dòng có kế hoạch qua Việt Nam để thiết lập cộng đoàn, đồng thời tìm kiếm ơn gọi cho hội dòng, vì ơn gọi ở Thái Lan ngày càng khan hiếm. Để chuẩn bị cho sứ vụ này, có một sơ cần phải học tiếng Việt, đó là sơ Băng-on hiện đang là tổng thư ký của Liên hiệp tu sĩ nam nữ tại Thái Lan. Sơ nhờ tôi giúp dạy tiếng Việt cho Sơ Băng-on hoặc giúp tìm người để làm công việc này. Vì các sinh hoạt của tôi cũng đã khá đầy, hơn nữa khả năng tiếng Việt của tôi cũng không giỏi cho lắm, đặc biệt ở phần phát âm các dấu, cho nên tôi đã giới thiệu Cha Linh với Sơ Băng-on. Tôi nói rằng, Cha Linh sẽ làm việc này tốt hơn tôi rất nhiều vì ngài sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, nên sẽ nắm chắc các quy tắc về Việt ngữ hơn tôi. May cho Sơ Băng-on, Cha Linh đã đồng ý dạy tiếng Việt cho sơ để giúp hội dòng sớm có thể bắt đầu sứ vụ mới tại Việt Nam. Vì thời gian đại dịch đòi hỏi mọi người hạn chế đi lại và tụ tập, nên Cha Linh đã không dạy Sơ Băng-on trực tiếp, nhưng qua hệ thống Zoom đang thịnh hành hiện nay. Sau một thời gian học tiếng Việt đều đặn và chăm chỉ, Sơ Băng-on đã bắt đầu nói và đọc được tiếng Việt căn bản, thậm chí còn đọc kinh và tự đàn hát được những bài thánh ca tiếng Việt mà Cha Linh dạy cho sơ.

Đó không phải là việc duy nhất mà Cha Linh làm một cách ngẫu nhiên trong mùa dịch. Mỗi ngày, vào 3 giờ chiều, Cha Linh “quy tụ” một số anh chị em giáo dân từ nhiều nơi khác nhau – Thái Lan, Úc, Việt Nam – để cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa. Một số tham gia qua Zoom, có nhóm tham gia qua Facebook Messenger. Trong số người tham gia có người là lao động di dân tại Thái Lan, có người thuộc tầng lớp tri thức hoặc là các tu sĩ, nhưng mọi người nối kết với nhau trong tâm tình cầu nguyện dưới sự hướng dẫn của Cha Linh. Cha Linh rất dấn thân với nhóm cầu nguyện online của ngài. Thậm chí có ngày cộng đoàn tổ chức đi dã ngoại, trên đường về, đến giờ sinh hoạt của nhóm, ngài xin dừng lại ở trạm xăng 30 phút để hiện diện với mọi người trong giờ cầu nguyện ban chiều.

Một sinh hoạt nữa mà Cha Linh đã làm rất đều đặn trong thời gian lưu lại Bangkok trong mùa dịch là phát sóng trực tuyến các Thánh Lễ Chúa Nhật. Vào những thời điểm tình hình kiểm soát dịch của chính phủ được nới lỏng hơn thì có một số nhỏ anh chị em Việt Nam đến tham dự nghi thức phụng vụ, đồng thời tham gia tích cực qua việc thực hiện các phận vụ dành cho giáo dân trong Thánh lễ. Tuy nhiên, vào những thời gian mà tình hình dịch căng thẳng, mọi người được khuyến cáo không nên tụ tập, thành phần “giáo dân” chỉ là những thành viên trong cộng đoàn. Ngay cả anh chàng thỉnh sinh người Thái, nhờ được cha Linh dạy cho đọc tiếng Việt cũng tham gia thưa đáp và hát trong Thánh lễ cho thêm phần “xôm tụ”. Thánh lễ trực tuyến được phát đi từ nhà nguyện nhỏ bé của cộng đoàn Ngôi Lời tại Bangkok. Vì mục đích của Thánh lễ là để phục vụ các anh chị em lao động di dân nên Cha Linh phát trên trang Facebook “Di dân Việt Nam tại Á châu,” rồi chia sẻ vào trang “Liên hiệp Công giáo Việt Nam tại Thái Lan”.

Chính vì những sinh hoạt mục vụ này mà Cha Linh đã có những trải nghiệm mới trong sứ vụ, sau khi rời khỏi giáo xứ ở vùng quê mà ngài đã dấn thân một thời gian dài. Tuy nhiên, những gì chia sẻ ở trên chỉ mô tả một khía cạnh rất nhỏ về những biến chuyển to lớn đã và đang diễn ra trên toàn thế giới, liên quan đến bối cảnh xã hội với những tác động sâu xa do công nghệ kỹ thuật số mang lại cho chúng ta. Nhân loại đang trong quá trình tạo ra và sống theo một khuôn mẫu mới của truyền thông xã hội, có khả năng tác động mạnh mẽ đến mục vụ và sứ mạng Phúc Âm hóa của Giáo hội trong hiện tại và tương lai. Kỷ nguyên số ra đời cách đây vài thập kỷ đã mang lại bước tiến bội phần trong việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) mà nó đang tràn ngập mọi khía cạnh của đời sống con người. CNTT-TT với vô số ứng dụng làm thay đổi cách làm việc và giải trí của chúng ta cũng như cách chúng ta tương quan với gia đình, bạn bè và những người hoàn toàn xa lạ. Công nghệ kỹ thuật số hiện đại thay đổi cách chúng ta mua sắm và tham gia vào các trách nhiệm dân sự. Nó cũng tác động không ít đến cách chúng ta sống đời sống thiêng liêng và tôn giáo, và thậm chí thay đổi cả cách chúng ta nhìn nhận vị trí của mình trên thế giới.

Với việc CNTT-TT tác động đến nhiều khía cạnh trong đời sống cá nhân và tập thể, chúng ta không ngạc nhiên khi bối cảnh mới này đưa Giáo hội đến những thách đố mục vụ chưa từng có trong quá khứ, hoặc có những đặc điểm riêng biệt chưa được biết đến trước khi thời đại kỹ thuật số ra đời. Để thấu hiểu bối cảnh mới một cách tường tận hơn, chúng ta cần tìm hiểu về những thách đố mục vụ đến từ việc sử dụng phổ biến CNTT-TT trong xã hội ngày nay, nhằm có đủ cơ sở để đề xuất các đường hướng mục vụ phù hợp dưới ánh sáng của thần học và giáo huấn mục vụ truyền thông của Giáo hội. Đây là việc làm cần thiết trong quá trình phân định những dấu chỉ thời đại mà Giáo hội luôn kêu gọi các vị lãnh đạo trong Giáo hội và những người làm mục vụ phải thực hiện một cách chuyên cần và đầy ý thức.

Trong phạm vi của tập sách này, chúng ta không thể đào sâu vào tất cả các khía cạnh của bối cảnh kỹ thuật số hiện đại cách chi tiết. Tuy nhiên, những gì được đề cập ở đây cũng phần nào mô tả được những tác động lớn lao mà công nghệ kỹ thuật số đang mang đến cho xã hội con người ở khắp các châu lục và vùng miền khác nhau trên thế giới.


Bối cảnh kỹ thuật số


Sự phát triển công nghệ thông tin và truyền thông đã mang đến cho nhân loại một công cụ hữu ích mang tên Internet. Tính đến nay chúng ta đã có 4 thế hệ Internet gọi là Web 1.0, Web 2.0, Web 3.0, và đến Web 4.0.[1] Thời gian đầu, công nghệ internet[2] chỉ mang hình thức trang web tĩnh với các siêu liên kết (hyperlinks), người dùng chỉ đơn thuần lướt qua các trang thông tin dưới dạng truyền thông một chiều. Tuy nhiên, hiện nay internet đã chuyển sang hình thức truyền thông tự trị, chủ động, khám phá nội dung, tự học hỏi cũng như cộng tác. Trong hình thức mới, các công cụ dùng để tạo nội dung được hỗ trợ một cách hiệu quả bởi học máy (machine learning) và Trí tuệ nhân tạo (AI).[3] Chúng ta có thể truy cập internet thông qua các thiết bị máy tính khác nhau, như máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy tính bảng, điện thoại thông minh và đồng hồ thông minh, v.v. Các thiết bị điện tử này không chỉ làm trung gian cho chúng ta giao tiếp mà còn hỗ trợ nhiều hoạt động như chuyển khoản qua điện thoại (mobile banking), dịch vụ chăm sóc sức khỏe từ xa (telehealth services), hội nghị trực tuyến (video conferencing), v.v.

Ngày càng có nhiều người, ngay cả những người sống ở những vùng sâu vùng xa có thể học cách sử dụng công nghệ trong các sinh hoạt hằng ngày, cho phép họ tận hưởng những lợi ích mà nó mang lại. Bởi vì CNTT-TT có tính tức thời, linh hoạt, chi phí phải chăng và dễ sử dụng, nên bất kỳ ai tiếp cận nó đều có thể tận dụng công nghệ không chỉ để phục vụ nhu cầu cá nhân, mà còn tạo ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của người khác. Các số liệu thống kê sau đây cho thấy tốc độ thâm nhập của CNTT-TT trên thế giới ngày càng gia tăng:[4]

● Vào tháng 1 năm 2021, có khoảng 5,22 tỷ người sử dụng điện thoại di động trên thế giới, tăng thêm 93 triệu (1,8%) so với số liệu của tháng 1 năm 2020, chiếm 66,6% dân số toàn cầu.

● Người dùng internet đạt 4,66 tỷ hoặc 59,5% dân số toàn cầu vào năm 2021; đánh dấu mức tăng 316 triệu, hoặc 7,3% so với tháng 1 năm 2020.

● Người dùng mạng xã hội đạt con số 4,20 tỷ hoặc 53,6% dân số toàn cầu vào năm 2021, tăng 490 triệu (13,2%) trên toàn thế giới so với con số của năm trước.

● Trung bình người dùng internet trên thế giới dành 6 giờ 54 phút trực tuyến mỗi ngày.

● Lượng thời gian mà mọi người dành cho các mạng xã hội tăng lên mức trung bình là 2 giờ 25 phút mỗi ngày. Tuy nhiên, có những khác biệt đáng chú ý giữa các quốc gia; ví dụ, người dùng ở Nhật Bản chỉ dành trung bình 51 phút trên mạng xã hội mỗi ngày trong khi người Philippines sử dụng mạng xã hội trung bình khoảng 4 giờ 15 phút mỗi ngày.


[1] Sareh Aghaei, Mohammad Ali Nematbakhsh and Hadi Khosravi Farsani, “Evolution of the World Wide Web: From Web 1.0 to Web 4.0,” International Journal of Web & Semantic Technology 3, no. 1 (2012): 1– 10.

[2] Ngày nay từ “internet” khi dùng để nói về công nghệ truyền thông, tương đương với radio, truyền hình, điện thoại, v.v. không còn phải viết hoa, nhưng được xem là một danh từ chung. X. “Capitalization of Internet,” https://en.wikipedia.org/wiki/Capitalization_of_Internet.

[4] “Digital 2021 Global Overview Report,” DataReportal (27/01/2021), https://www.slideshare.net/DataReportal/digital-2021-global-overview-report-january-2021-v01

Giới thiệu về sách: