Sunday, May 20, 2018

Buddhist Communication of the True Roots of the Ecological Crisis




Religion and Social Communication, Vol. 15, No. 2, 2017, 125-141

Abstract

The attempt to explain the root cause of the ecological crisis has been carried out by environmental philosophers, scientifc experts as well as religious thinkers. Buddhism with its unique approach to the human condition presents its own framework for dealing with the ecological crisis.  The  Buddhist  framework  places  this  issue  within  the  larger reality of humanity being plagued by unwholesome tendencies, namely greed, hatred and delusion. These unwholesome tendencies represent the  root  poisons  causing  human  spiritual  and  moral  degeneration, which  subsequently  is  manifested  in  personal  and  social  problems, among  them  the  ecological  crisis.  This  paper  applies  this  Buddhist framework to diagnosing the modern day ecological crisis and asserts that Buddhism needs to communicate its worldview to address negative human tendencies that compound the problem.

Full text:

https://www.researchgate.net/publication/325019697_Buddhist_Communication_of_the_True_Roots_of_the_Ecological_Crisis

Monday, April 9, 2018

Những trắc trở trong đời sống tâm linh của lao động di dân Công giáo Việt Nam tại Thái Lan


  
Dẫn nhập

            6g30 sáng ngày Chúa Nhật Lễ Mình Thánh Máu Thánh Chúa năm 2017, tôi đang chuẩn bị dâng lễ cho một nhóm lao động di dân Việt Nam tại cố đô Ayutthaya, Thái Lan. Trong khi đang ngồi trong tòa giải tội, chờ giáo dân đến nhà thờ để xưng tội, tôi truy cập Facebook thì thấy xuất hiện trên trang tường một cảnh liên hoan trong phòng trọ thật vui vẻ của một nhóm thanh niên Công giáo đang được quay và chia sẻ tcrực tiếp. Biết là thanh niên Công giáo vì trên tường có dán ảnh Lòng Thương Xót Chúa, Đức Mẹ và thánh An-tôn. Nhóm bạn trẻ ngồi trên sàn nhà xung quanh những món ăn và thức uống đã được bày ra. Thức ăn thì tôi không nhận ra là những món gì, nhưng thức uống thì dễ dàng nhận ra là whiskey “285”, một nhãn hiệu phổ biến tại Thái Lan vì giá cả phù hợp với túi tiền của người lao động. Khi thấy cảnh ăn nhậu vào sáng sớm Chúa Nhật Lễ Mình Máu Thánh Chúa, vì chủ nhân của tài khoản Facebook có kết bạn với tôi nên tôi đặt câu hỏi: - Hôm nay Lễ Mình Thánh Máu Thánh Chúa, các bạn có đi lễ không?
            Chủ nhân tài khoản Facebook trả lời câu hỏi của tôi bằng một câu hỏi khác: - Lễ ở đâu thưa cha?
            Tôi trả lời: - Lễ ở nhà thờ chứ ở đâu. Chỗ nào có nhà thờ thì ở đó có Thánh lễ Chúa Nhật.
            Chủ nhân của trang FB sau đó gọi điện thoại cho tôi và thanh minh rằng anh và những người bạn thỉnh thoảng đi tham dự Thánh lễ tiếng Việt vào các dịp quan trọng. Còn các thánh lễ Chúa Nhật khác thì không đi bởi vì một lý do rất thực tế: “Như cha biết, mục đích con qua Thái Lan là để làm ăn.” Điều đáng nói là phòng trọ của các bạn trên nằm trong quận Huây Khoảng của thành phố Bangkok, cách nhà thờ chỉ vài cây số.
            Việc các lao động di dân Việt Nam tại Thái Lan thường xuyên chụp hình, quay phim đưa lên mạng xã hội những sinh hoạt phản cảm xét về khía cạnh tâm linh không phải là điều xa lạ. Năm 2017, lễ hội Songkran (còn được gọi là Lễ hội té nước) của Thái Lan diễn ra đúng vào ba ngày Tam Nhật Thánh. Lễ hội Songkran là lễ hội Phật giáo mà người ở các quốc gia theo Phật giáo tiểu thừa, trong đó có Thái Lan, gọi là năm mới của họ. Người ta ăn mừng lễ Songkran bằng nhiều cách, nhưng một trong những cách phổ biến nhất là tụ tập trên các đường phố và xối nước lên nhau hoặc bắn nước vào nhau bằng những chiếc súng nhựa. Mặc dầu là một lễ hội truyền thống có nguồn gốc trong Phật giáo, nhưng ngày lễ đã biến dạng khi các trò chơi té nước trở nên dịp cho những thanh niên, thanh nữ ăn mặc hở hang, xuống đường nhảy múa và có những hành động phản cảm. Khi ở trong đám đông chật cứng người đã có nhiều cô gái đã trở thành nạn nhân của những hành vi sờ soạng bởi những gã đàn ông biên thái.
            Năm 2017, ba ngày lễ Songkran trùng hợp với ngày thứ năm, thứ sáu và thứ bảy Tuần Thánh. Tuy nhiên, đối với nhiều lao đông Công giáo Việt Nam tại Thái Lan, việc ăn mừng Songkran vẫn dành ưu tiên vì trong những ngày đó họ không phải làm việc mà được vui chơi thỏa thích. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh khi cả Giáo hội Công giáo đang tưởng niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu thì trên Facebook vẫn xuất hiện những hình ảnh các bạn trẻ Công giáo Việt Nam đi chơi Songkran một cách vô tư. Một bạn nam đăng hình đang vui chơi ở phố Silom, nơi có hàng ngìn người tụ tập, kèm theo lời rủ rê bạn bè tới để “ngắm gấy”. Có người không đi chơi ở những nơi đông người nhưng lại tìm đến quán bar hoặc phòng karaoke để hát hò, nhảy nhót, ăn uống và dĩ nhiên là chia sẻ cuộc vui lên mạng xã hội cho mọi người cùng biết.
            Đây chỉ là một vài ví dụ trong vô số câu chuyện mà một người đã trải qua hơn 10 năm làm mục vụ với lao động di dân Công giáo Việt Nam tại Thái Lan có thể nêu lên để dẫn chứng về thực trạng liên quan đến đời sống tâm linh của giới trẻ Việt Nam khi rời khỏi quê hương, giáo xứ, đi đến một đất nước khác để mưu sinh. Bài viết này chỉ nhìn vào tình trạng tại Thái Lan với những chiều kích liên quan đến bối cảnh ở đây. Tuy nhiên, nếu những gì đang xảy ra ở Thái Lan có phần giống như những gì tìm thấy được ở các đất nước khác thì có nhiều điều mà các vị lãnh đạo trong Giáo hội quê nhà cần phải cân nhắc và điều chỉnh trong công việc giáo dục tâm linh cho giới trẻ trong thời đại mới.

Thực trạng người lao động Công giáo Việt Nam tại Thái Lan

Việc một người trẻ khi bước qua tuổi thành niên rời khỏi tổ ấm và nề nếp của gia đình cũng như khuôn khổ của giáo xứ, đi tới một nơi xa để học tập hoặc làm việc đã trở nên một thực tại phổ biến trong đời sống của người Việt Nam. Ở các vùng nông thôn, những ngày bình thường trong năm, cộng đoàn giáo xứ chủ yếu bao gồm người già và con nít. Lớp thanh niên thanh nữ đa số đi xa để học tập hoặc làm ăn kiếm sống. Hiện tượng 15-20 năm qua tại Thái Lan có hàng chục ngìn người lao động Việt Nam, đa số tuổi từ 15-35 làm việc bất hợp pháp phản ảnh thực trạng người Việt sẵn sàng đi ra nước ngoài để làm việc, ngay cả ở những nơi mà sức lao động của họ không được chấp nhận theo luật pháp. Nếu như ở các thành phố lớn ở Việt Nam vào dịp Tết trở nên trống vắng vì người nhập cư rời khỏi thành phố về quê ăn Tết thì tại Thái Lan cũng diễn ra cảnh tượng những chuyến xe đò đầy nhóc người Việt rời khỏi đất nước Chùa Vàng để về đoàn tụ với gia đình trong những ngày đầu năm. Ngoại trừ những ngày ngắn ngủi đó, đa số thời gian trong năm thì họ ở Thái cặm cụi làm việc, nghỉ trong những phòng trọ chật hẹp, cố gắng dành dụm để có tiền xây nhà, mua đất hay có vốn để làm một công việc gì đó trong tương lai. Nhiều người trong họ thấy không đạt được những gì mình mong muốn tại Thái Lan thì lại tìm cách đi các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ hoặc Úc. Ít ai trong họ nghĩ rằng nếu ở mãi tại Việt Nam mà không đi ra nước ngoài thì vẫn tìm được sự thành công.
            Song song với việc người trẻ Việt Nam sinh sống và làm việc xa gia đình, giáo xứ và quê hương là việc họ phải sống đạo và giữ đạo trong một môi trường hoàn toàn tự do hoặc có rất ít khuôn khổ. Ở đây không có lời nhắc nhở của cha mẹ, không có lời giảng dạy hay răn đe của cha xứ, không có tập tục và truyền thống của cộng đồng, không có tiếng chuông đánh thức mỗi sáng sớm để thôi thúc họ đến nhà thờ với những người xóm giềng. Việc sống đạo và giữ đạo xem như hoàn toàn tự lập, ngay cả đối với những người tuổi 17, 18 mới chập chững bước vào đời. Một số người nếu ở chung phòng trọ với đàn anh anh đàn chị mà siêng năng trong việc kinh nguyện, lễ lạt thì may ra vẫn duy trì được phần nào lối sống đạo như cũ. Nhưng cũng không ít người cho dù là bậc làm anh làm chị, thậm chí là cô chú mà cũng không làm gương tốt cho em út, con cháu noi theo.
            Khi đến sinh sống và làm việc bất hợp pháp tại một đất nước mà người Công giáo chỉ chiếm 0.4% dân số trên cả nước thì việc duy trì đời sống đạo gặp nhiều thách đố là điều không đáng bất ngờ. Để cho một người Công giáo Việt Nam lao động tại Thái Lan làm những việc căn bản như đi lễ ngày Chúa Nhật, đa số phải chấp nhận đến nhà thờ vào những giờ không thuận tiện với sinh hoạt hàng ngày. Giờ diễn ra Thánh lễ thường trùng hợp với giờ phải làm việc hoặc giờ họ ngủ nghỉ sau khi làm việc về. Ngoài ra, để đến nhà thờ thường họ phải đi lại bằng taxi chứ không phải đi bộ hoặc đi xe máy như ở Việt Nam. Một số ít may mắn ở gần nơi có nhà thờ Công giáo, nhưng đa số ở cách xa nhà thờ từ 5 đến 30 cây số. Có người phải mất vài trăm baht là một phần lớn của thu nhập trong một ngày để giữ điều răn thứ 3 trong 10 điều răn Đức Chúa Trời. Khi tới nhà thờ, nếu là Thánh lễ tiếng Thái thì người Việt Nam khó có thể tham dự Thánh lễ một cách trọn vẹn vì thiếu kiến thức ngôn ngữ. Mặc dầu lao động Việt Nam tại Thái Lan khá giỏi trong việc giao tiếp bằng tiếng địa phương, nhưng nghi thức phụng vụ Công giáo sử dụng những từ ngữ ít gặp trong cuộc sống thường nhật. Khó khăn về ngôn ngữ làm cho nhiều người không hứng thú để hy sinh thời giờ, tiền bạc, giấc ngủ hay một cuộc vui để đi lễ. Tuy nhiên, những yếu tố này không phải là yếu tố quyết định. Có người sẵn sàng hy sinh những thứ trên để hoàn tất trách nhiệm của người Ki-tô hữu. Song có những người khác không phải hy sinh nhiều mà cũng không đến nhà thờ tham dự Thánh lễ, cho dù đó là Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Việt vào một giờ tương đối là thuận tiện đối với họ. Ở một phòng trọ có ba bạn nam người Hương Khê, Hà Tĩnh ở chung, vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh vừa qua, chỉ có một trong ba người đi tham dự đại lễ trong khi hai người còn lại thì đi chơi.
            Việc tham dự Thánh lễ của người Việt Nam lao động tại Thái Lan chỉ là một vấn đề điển hình về tinh thần sống đạo và giữ đạo của người Công giáo khi rời xa gia đình và giáo xứ. Nó được đưa ra để dẫn chứng vì tính cụ thể và quan sát được một cách dễ dàng. Tuy nhiên, còn có nhiều vấn đề khác để cho các bậc phụ huynh và lãnh đạo trong Giáo hội phải quan ngại. Một trong những điều nghiêm trọng nhất là những hành vi và thái độ coi thường những giá trị đạo đức và nhân bản mà họ đã học hỏi được trong môi trường sống tại quê nhà. Tại Thái Lan hành vi ăn cắp vặt, gian lận, nói dối… dường như đã trở thành những thứ được xem là cần thiết để sinh tồn trong môi trường sinh sống và làm việc đầy bất ổn và khó khăn. Có một bán gái làm việc phục vụ quán rượu chia sẻ với tôi, “Làm quán mà không ăn gian là không sống nổi.” Việc “ăn gian” mà người bạn gái ấy đề cập tới có nhiều hình thức khác nhau. Có khi việc ăn gian là nhân viên phục vụ tính tiền khách hàng nhiều hơn thực tế và giữ phần dư cho riêng mình. Có khi việc ăn gian là lấy hàng của bàn này bán cho bàn kia để lấy tiền mà chủ quán không hề hay biết. Theo lý giải của họ thì nếu như không có những hành động này mà chỉ dựa vào lương căn bản và số tiền boa của khách hàng thì không đủ để sống.
            Tuy nhiên, cũng vì số tiền boa từ khách hàng mà những người làm công việc phục vụ tại các quán rượu là những bạn nữ thường phải nói dối về tình trạng hôn nhân của mình. Biết rõ tâm lý của khách hàng nam là thích những cô gái đẹp chưa chồng, nên nhiều người mặc dầu đã lập gia đình, nhưng vẫn trả lời với khách là còn độc thân khi họ đặt câu hỏi. Tuy nhiên, nhiều cô gái không chỉ dừng lại ở việc nói dối với khách về tình trạng chồng con mà còn xây dựng những mối quan hệ vượt giới hạn để có được những thứ mình muốn. Điều này càng dễ xảy ra khi người đã lập gia đình không sống chung với nhau—một người làm việc tại Thái Lan, còn một người tiếp tục ở quê nhà.
            Việc nói dối trở thành một thứ hiển nhiên và cần thiết trong đời sống của nhiều người lao động tại Thái Lan, và có khi nó dẫn đến những trường hợp mà không ai ngờ đó là sự thật. Có một người trong cộng đồng lao động liên lạc và trình bày với tôi rằng, ở Bangkok có một cặp vợ chồng Công giáo thuộc một giáo xứ lớn ở Hà Tĩnh. Hai vợ chồng này đang chung sống với một đàn ông người Thái Lan. Người phụ nữ sống với người đàn ông Thái như là vợ chồng và đã có con với ông ta. Đối với người đàn ông Việt Nam thì họ khai với ông chồng Thái rằng là anh trai nên ông ta không hề nghi ngờ gì. Cả ba người ở với nhau trong cùng một nhà. Khi người đàn ông Thái có ở nhà thì ông ta và người phụ nữ Việt là vợ chồng. Khi ông ấy vắng nhà thì hai người Việt Nam là vợ chồng. Khi nghe về sự việc lạ kỳ này, tôi hỏi vậy cha xứ và gia đình của họ ở Việt Nam đã biết chuyện chưa thì được cho hay là mọi người đều đã biết chuyện. Tuy nhiên, họ không thể giải quyết được gì. Được biết vị quản xứ của giáo xứ nói trên là một người có tiếng nghiêm khắc với giáo dân. Nhưng một khi giáo dân đã “thoát” ra khỏi ranh giới của giáo xứ thì một vị linh mục có quyền lực tới đâu đi chăng nữa cũng không thể dễ dàng gây ảnh hưởng trên họ. 
            Cũng rất may khi toàn cảnh đời sống tâm linh của lao động di dân Công giáo Việt Nam tại Thái Lan không phải là một bức tranh hoàn toàn u ám. Trong cộng đồng vẫn có nhiều người cũng phải bươn chải với cuộc sống và công việc như bao nhiêu người khác, nhưng họ vẫn sắp xếp thời giờ để đi lễ hàng tuần, bất kể là lễ tiếng Việt hay tiếng Thái. Có một nhóm bạn nữ ở khu vực Bangyai gần Bangkok dường như không bao giờ bỏ lễ. Vì trong khu vực của họ chỉ có lễ tiếng Việt một tháng một lần nên các tuần còn lại họ hẹn nhau đi lễ Việt được tổ chức ở các vùng khác. Ngay cả những Thánh lễ hoặc giờ cầu nguyện được tổ chức tại nhà cộng đoàn dòng Ngôi Lời của tôi họ cũng đến tham dự rất đều đặn. Ngoài những người siêng năng trong việc lễ lạt, kinh nguyện còn có những người dám dấn thân để cộng tác với các linh mục để phục vụ cộng đoàn trong các vai trò thành viên ban điều hành nhóm hoặc ca đoàn để phục vụ trong các Thánh lễ. Nếu không có những cộng tác viên giáo dân tích cực thì khó để cho công việc mục vụ của các vị chủ chăn có thể diễn ra một cách hiệu quả.
             
Vài điều cần suy nghĩ

            Mặc dầu tôi đã cộng tác với một số linh mục và tu sĩ Việt Nam đang phục vụ tại Thái Lan để làm mục vụ cho lao động di dân Việt Nam tại Thái Lan hơn 10 năm qua, nhưng những gì chúng tôi có thể làm được chỉ là giúp cho những ai còn có phần nào tinh thần sống đạo duy trì đời sống tâm linh của mình trên đất nước Phật giáo này. Đối với những người có tinh thần thấp hoặc hoàn toàn nguội lạnh trong vấn đề đạo đức, chúng tôi dường như bất lực. Tôi vẫn nhớ có một lần tôi dâng lễ tiếng Việt ở nhà thờ thánh Giuse tại Bangkok. Khi đó nhà cộng đoàn dòng của tôi ở cách nhà thờ chỉ khoảng 500 mét. Và cách nơi tôi ở khoảng 300 mét có một nhóm bạn trẻ Công giáo Việt Nam làm việc trong một xưởng may. Nhưng vào sáng Chúa Nhật, nhóm bạn trẻ đó đã quyết định mở một cuộc liên hoan trong phòng trọ. Đến 1 giờ chiều khi diễn ra Thánh lễ thì họ đã tạm dừng cuộc chơi để đi ngủ nên không đến tham dự. Tuy nhiên, khoảng 3 giờ chiều sau khi họ ngủ dậy thì quyết định kéo nhau đi hát karaoke. Tôi biết họ đi hát karaoke là vì họ đi ngang qua nơi tôi ở trước khi lên taxi, rồi sau khi tới tụ điểm karaoke thì họ đã livestream cuộc liên hoan trên mạng xã hội Facebook. Sau khi tôi phản ảnh về sự việc này thì người lớn nhất trong nhóm đó, một người đã có gia đình, nói rằng, “Cha có quyền gì mà nói.”
            Câu nói của giáo dân đó, tuy có điều hơi thiếu tôn trọng, là một câu nói chính xác. Xét về mặt hành chánh, thời điểm ấy tôi không có bất cứ thẩm quyền nào trên anh ta hoặc nhóm bạn trẻ trong phòng trọ. Tôi không phải là cha xứ của anh ta ở Việt Nam hoặc ở Thái Lan. Tôi không được bất cứ giáo quyền nào bổ nhiệm để điều hành, giải quyết, hoặc có tiếng nói với các lao động Việt Nam tại Thái Lan. Thời điểm ấy, tôi chỉ là một “tình nguyện viên” tích cực, cộng tác với các linh mục tình nguyện khác trong một tổ chức không chính thức mang tên “Hiệp hội Công giáo Việt Nam tại Thái Lan.” Mặc dầu đã hoạt động trong nhiều năm, nhưng Hiệp hội chưa hề được Giáo hội địa phương chính thức công nhận. Vì thế nếu tiếng nói của chúng tôi có được các lao động di dân Việt Nam tôn trọng thì cũng bởi vì họ nhận ra sự nhiệt tâm của chúng tôi đối với họ. Trên thực tế thì không có bất cứ một điều luật nào ràng buộc họ phải tuân theo những gì chúng tôi chỉ bảo. Chính vì thế mà trong dịp đại lễ Giáng Sinh 2016, khi có một vụ ẩu đả xảy ra tại nhà thờ ngay sau Thánh lễ, tôi đã yêu cầu các đương sự tới gặp tôi để giải quyết, đặc biệt để xin lỗi cha xứ của nhà thờ, nhưng chỉ có một bên đồng ý đến gặp tôi. Còn một bên thì không chấp nhận làm theo yêu cầu nên tôi đành phải trình sự việc đến cha xứ của họ tại Việt Nam để xin ngài giải quyết.       
            Mục vụ di dân Việt Nam tại Thái Lan thời gian qua không chỉ gặp hạn chế về thẩm quyền mà còn về nhân sự. Mặc dầu trên cả nước có gần 20 linh mục Việt Nam đang phục vụ, nhưng chỉ có 5-6 vị tham gia vào mục vụ di dân Việt Nam. Trong số các linh mục tham gia vào mục vụ di dân Việt Nam thì không có người nào làm đầy thời giờ. Tất cả đều có những trọng trách khác được giao phó bởi hội dòng hoặc giáo phận. Trước đây tôi vừa quản xứ một giáo xứ của người Thái vừa làm mục vụ cho người Việt. Hiện nay công việc chính của tôi là giảng dạy tại Đại Chủng Viện Lux Mundi và làm nghiên cứu. Tuy nhiên, tôi vẫn dành thời giờ cho mục vụ di dân Việt Nam. Tháng 12, năm 2017, Hội đồng Giám mục Thái Lan đã chính thức thành lập Ủy ban mục vụ di dân Việt Nam. Hiện nay trong Ủy ban chỉ có 7 thành viên (2 linh mục người Thái Lan và 5 linh mục người Việt).
            Sự thiếu thốn về mặt nhân sự đã là một trở ngại lớn trong công tác mục vụ, nhưng việc lao động di dân Việt Nam sống không tập trung mà chia ra thành nhiều vùng trên cả đất nước Thái Lan cũng là một yếu tố quan trọng khiến công việc khó đạt được hiệu quả như mong muốn. Mặc dầu trong Tổng giáo phận Bangkok vẫn có số lượng người Việt nhiều nhất, nhưng ở các tỉnh thành khác cũng có người Việt đang sinh sống. Ở những nơi đó, nếu không có nhà thờ, hoặc có nhà thờ cử hành Thánh lễ tiếng Thái mà họ không chịu đi thì cũng không có ai ép họ được. Chỉ mới gần đây tôi đã bắt đầu làm mục vụ cho một nhóm tại đảo Phuket ở miền nam Thái Lan, cách thủ đô Bangkok 850km. Trước đây chưa từng có một Thánh lễ tiếng Việt nào tại thành phố du lịch nổi tiếng này. Trong dịp Tuần Thánh 2018, tôi đến giải tội cho các thành viên nhóm, trong đó có nhiều người 4-5 năm qua chưa được đến với bí tích hòa giải.
            Một vài điều sơ lược về thực trạng của mục vụ cho người di dân Việt Nam tại Thái Lan cho thấy rằng trách nhiệm chính để bảo đảm những người trẻ Công giáo khi đến Thái Lan tiếp tục duy trì đời sống tâm linh và đạo đức nằm ở Giáo hội quê nhà. Gia đình và giáo xứ có trách nhiệm phải chuẩn bị cho các bạn trẻ có một đức tin vững chắc và tư duy trưởng thành về việc sống và giữ đạo cho dù họ đang ở bất cứ nơi nào. Quá trình giáo dục tâm linh cho các bạn trẻ phải hướng tới một thời điểm trong tương lai khi họ sẽ sống xa quê hương, sống ngoài tầm quản lý của cha mẹ và cha xứ. Họ sẽ không còn nghe được tiếng chuông của nhà thờ báo giờ đi lễ hay nghe tiếng nói của vị đại diện ban hành giáo thông báo trên loa nhà thờ kêu gọi mọi người đến đọc kinh hoặc tham dự một sinh hoạt đặc biệt nào đó tại nhà thờ. Họ không còn phải bận tâm nhiều việc hành vi của họ sẽ ảnh hưởng đến bộ mặt của gia đình, dòng họ trong ánh mắt của người trong cộng đoàn giáo xứ như thế nào. Ở trên đất nước Thái Lan, các lao động di dân Công giáo Việt Nam phải dựa vào đức tin cá nhân, dựa vào kiến thức về đạo đã học hỏi được, và dựa vào tiếng nói lương tâm để duy trì đời sống tâm linh và đạo đức của mình. Chỉ bằng sự chuẩn bị đầy đủ thì họ mới trải qua thời gian ở đây mà không đánh mất căn tính và lối sống của người Công giáo.

Kết luận

            Trực trạng về xã hội Việt Nam cho thấy hiện tượng người Việt đi ra nước ngoài để mưu sinh sẽ ngày càng gia tăng. Tuy Thái Lan là một quốc gia không cho phép người Việt lao động một cách hợp pháp, nhưng vẫn có trên dưới 50.000 người đang làm việc tại đây, trong đó một số đáng kể là người Công giáo. Các giáo xứ tại Việt Nam, đặc biệt là các vùng thôn quê đã dần quen với cảnh người trong giáo xứ không chỉ đi làm ở các thành phố lớn trong nước, mà còn ra nước ngoài để sinh sống. Có người ở nước ngoài một vài năm rồi quay trở về. Nhưng số người ở nước ngoài thời gian 5 đến 10 năm, thậm chí lâu hơn ngày càng phổ biến. Chương trình đào tạo tâm linh vì thế cần phải chuẩn bị cho người Công giáo, đặc biệt là người trẻ, có thể ra nước ngoài để sinh sống và làm việc trong một môi trường hoàn toàn tự lập. Chất lượng và hiệu quả của việc mục vụ giáo xứ trong thời đại mới không còn nằm ở việc giáo hội địa phương xây được cơ sở to lớn như thế nào, hay một bạn trẻ học giáo lý xong thuộc lòng được bao nhiêu kinh, nhưng ở cách sống đạo và giữ đạo của giáo dân khi hoàn cảnh bắt buộc họ phải rời xa quê hương, rời xa giáo xứ để đến một đất nước xa lạ. Ở đó họ phải thật sự nỗ lực để mưu sinh kiếm sống và phải phấn đấu để thể hiện đức tin và đạo đức của người Công giáo giữa muôn vàn khó khăn và cạm bẫy. Thực trạng của người di dân Công giáo Việt Nam tại Thái Lan cho thấy còn có nhiều vấn đề cần phải suy nghĩ trong quá trình giáo dục và đào tạo tâm linh cho giới trẻ trong bối cảnh sống mới. 


Lm. Anthony Lê Đức, SVD
Tháng 4, 2018


Wednesday, April 4, 2018

Christian Humanism, Anthropocentrism, and the Contemporary Ecological Crisis

New Theology Review, Vol. 30 (2), March 2018, 10-19

Abstract
The tradition of Christian humanism is one of the greatest treasures of the Catholic Church. As ecological concerns loom over the world, the Catholic Church has been presenting an environmentalism faithfully founded on this tradition, which can be traced back to the early Church Fathers, and indeed Jesus himself. Unfortunately, the term "humanism" has been co-opted by those holding secularist views, and Catholic humanistic environmentalism has not always been understood by those looking to evaluate the Church’s disposition towards the ecology, often mistaking it for a form of anthropocentrism. The discussion shows that Catholic environmentalism is a sound expression of the rich tradition of Christian humanism. It also asserts that Catholic environmentalism must be understood within this unique humanistic outlook without references to the notion of anthropocentrism, which has its own controversy about meaning and usage.

Full Text

http://newtheologyreview.org/index.php/ntr/article/view/1414/2370

Sunday, April 1, 2018

The Three Characteristics of Existence in Buddhism and Environmental Well-Being

In The Greening of Religion, edited by Jonathan Leader (Columbia, South Carolina: Cherryhill Seminary, 2017), 103-124.


Introduction


As the environmental crisis unfolds in complex and multifarious ways, it is becoming increasingly clear that this is an inter-disciplinary issue with multi-layered causes as well as approaches towards finding effective solutions. Te scope and seriousness of the crisis have become such that it requires a concerted effort from multiple disciplines–science, sociology, public policy, economics, and religion–in order to ad dress all of its dimensions. While no doubt each field is able to offer its own method of dealing with the issue, to rely on any single sector is probably unwise and ultimately less successful than the multi-disciplinary approach. Thus, each respective field must make its own contributions to the entire effort if the problem is to be effectively solved. This paper is concerned with the contribution made by religion, in particular Theravada Buddhism, which is adhered to by the majority of the peoples in the countries of Sri Lanka, Thailand, Myanmar, Laos, and Cambodia. Theravada Buddhism, however, also has great appeal to many people outside of the region and its teachings can influence people in their thinking and actions.

Buddhism, both its Theravada and Mahayana ambits, has also been subject of investigation as resource for environmental ethic. Te aim of this task is to delve into the Buddhist tradition in order to retrieve use ful elements to advance an environmentalism that is not only faithful to the tradition but also applicable to the modern religio-socio context. Religion finds its relevance and purpose when it is able to respond to the most pressing issues of human life. In the contemporary era, few would dispute that the issues associated with global warming and climate change cannot be faced with an attitude of nonchalance and unconcern. In this paper, I set out to present one possible way that Buddhist teachings may be examined in order to advance a vision of human-nature relationship that promotes environmental well-being. Te model proposed for this paper envisions human-nature relation ship as that of “mutual service and gratitude on the journey towards liberation.” This model is derived from reflections on what Buddhism holds as the ultimate value in life. Te word “value” here no doubt easily conjures up issues related to the notion of intrinsic value often discussed and debated in environmental ethics. While this inquiry is certainly motivated by what goes on in secular environmental ethics as the question of intrinsic value is of particular interest to many of the environmental philosophies, the result of the reflection pertaining to Buddhism is quite different from what one might expect.

The difference surely is due to the distinctiveness of Buddhist thought which leads us to conceive of ourselves and of nature in unconventional ways. This, however, is the unique contribution of Buddhism to the cause of environmental well-being, and worthwhile for us to consider in a serious manner.

Full text
https://drive.google.com/open?id=1rNfcDCSgb6joXMQtELmXr4HFrL5R1M5c

Thursday, June 29, 2017

Buddhist Environmentalism in the Digital Age


RELIGION AND SOCIAL COMMUNICATION
Vol. 14 No. 2, 2016

Abstract

The environmental crisis is an ongoing problem facing humanity, and may be exacerbated in the digital age in which human preoccupation with the digital environment and cyberspace might trump care and concern for the natural environment. The environmental crisis is a complex issue that requires interdisciplinary approaches to address all of its dimensions—social, economic, political, and spiritual, etc. Religions have been enlisted in this e ort because they are seen as an e ective force in motivating people to change attitudes and behaviors that are environmentally destructive to those that are more benign towards ecosystems. Buddhism is among the world religions whose teachings have been perceived to be environmentally friendly. This paper sets out to consider the role of Buddhism in the e ort to address the environmental crisis in the digital age. It does so by: (1) describing the danger of human and nature alienation in the Asian social-cultural context, where Buddhism is most practiced and has the greatest direct and indirect in uence on the life of the people; (2) outlining basic Buddhist teachings that apply to nature; and (3) proposing that Buddhism can assert itself in the digital age in order to promote greater environmental well-being.

Keywords: Buddhism, environmental crisis, digital age, digital era, technological nature 

Full text
https://docs.wixstatic.com/ugd/5c600f_44614f9593b24ae79f08df5e6afe4b1b.pdf

Tuesday, February 21, 2017

Religious Environmentalism and Environmental Sustainability in Asia

Anthony Le Duc

Chapter

Abstract

The phase of the eight millennium development goals (MDGs) adopted by the United Nations at the beginning of 2000 has given way to the program of seventeen sustainable development goals (SDGs) ratified in 2015, to be implemented until 2030. While the number of SDGs is more than twice that of MDGs and more comprehensive in outlook, examination of the individual goals indicates that most if not all of the SDGs are either directly related to environmental sustainability or indirectly concerned with the quality of the environment. This is not surprising because nations have realized, if somewhat late, that human well-being cannot be dissociated from the quality of ecosystems. The escalating global environmental crisis threatens economic and social stability and makes the innate human desire for happiness even more difficult to attain. The issue, moreover, has grown into something that cannot be confined to a single or even a few sectors of society, or that can be adequately addressed by politicians or scientists alone. Rather, achieving environmental sustainability, which is an essential component of the SDGs program, requires an interdisciplinary, dialectical, and dialogical approach involving a diverse collection of individuals, groups, organizations, and institutions. Political will, social and economic reforms, scientific and technological know-how, and religious and personal commitment are all part of the effort to address the environmental woes of the modern era. The role and contribution of religious systems and traditions for the achievement of SDGs , particularly in Asia, is the focus of this chapter. This chapter aims to present the following: (1) stating the reasons why religion is essential to the aspirations of the SDGs in Asia and (2) exploring how the major religions in Asia can contribute to promoting environmental sustainability by providing a framework for (a) assessing the root cause of environmental destruction; (b) envisioning a religious-based approach to how human beings could relate to the natural environment; and (c) presenting how religion promotes harmonious human-nature relationship through a program of self-cultivation and self-transformation . This chapter hopes to demonstrate that the task of achieving the SDGs in Asia is tied with the concern of religion and progress depends greatly on the improved state of human moral and spiritual well-being that religion aims to promote.

THERAVADA BUDDHIST ENVIRONMENTAL SPIRITUALITY: RELATIONAL AND DEVELOPMENTAL DIMENSIONS IN PROMOTING ENVIRONMENTAL WELL-BEING

Anthony Le Duc 

Verbum SVD 57:3-4 (2016)

Abstract

Buddhism is often seen as a religion or worldview offering an important ethical grounding for a positive approach to ecology. The author explains some fundamental convictions in Theravada Bud- dhism with regard to the self-understanding of the human person and its relationships to other levels of being and to nature. He pre- sents the Buddhist analysis of the present-day environmental crisis in our world as well as the motivation for action and the tools to bring about a different attitude. There, he shows that the horizontal dimension of relations to other humans, animals and nature in general cannot be separated from a vertical dimension. Thus, he treats Theravada Buddhism in a spiritual perspective, beyond the ethical one. That shows Buddhism with its option for human action here and now, even if the permanent happiness of nibbāna remains an ultimate vision which nevertheless takes shape in today’s de- mands for personal and social change and caring relationships. 

https://drive.google.com/open?id=0B_KRMS4QXPcnSkd6MV9xY0JnUVU